25 tình huống pháp luật về Khai sinh, khai tử
Thực hiện Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 15/9/2025 triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải cơ sở và nhiệm vụ đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2025 trên địa bàn phường Cẩm Thành; Kế hoạch số 42/KH-UBND ngày 16/9/2025 triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2025 - 2030” trên địa bàn phường Cẩm Thành. Văn phòng HĐND và UBND phường giới thiệu 25 tình huống pháp luật về Khai sinh, khai tử để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
Tình huống 1. Trong thời kỳ hôn nhân với anh Bảo, chị An sinh một bé gái nhưng theo lời khai của chị An đứa bé đó là con của anh Cảnh (anh Cảnh thừa nhận việc này) và anh Bảo cũng không thừa nhận đứa bé là con của anh nên chị không làm giấy khai sinh cho bé. Sau khi ly hôn với anh Bảo, chị An kết hôn với anh Cảnh và muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con với phần khai về người cha là anh Cảnh, chị muốn biết chị cần làm những thủ tục để được đăng ký khai sinh cho con chị với thông tin người cha là anh Cảnh?
Trả lời:
* Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định “1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”
Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) quy định “Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.” (Khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án…4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.”)
* Khoản 4 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch “Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.
Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Thông tư này.” (Khoản 1 Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây: “Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.”).
Căn cứ các quy định nêu trên, con của chị An sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với anh Bảo thì đứa bé được pháp luật công nhận là con chung của vợ chồng chị An và anh Bảo. Để đăng ký khai sinh cho cháu bé có thông tin về người cha là anh Cảnh thì anh Bảo hoặc chị An cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực xác định đứa trẻ không phải là con ruột của anh Bảo mà là con của anh Cảnh. Trường hợp Tòa án nhân dân khu vực từ chối giải quyết thì chị An cung cấp văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con giữa anh Cảnh và cháu bé để cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh kết hợp đăng ký nhận cha, con cho anh Cảnh và cháu bé.
Tình huống 2. Anh Phong sinh năm 1990 là lao động tự do, bị mất hết bản chính, bản sao Giấy khai sinh được cấp trước đây và đủ điều kiện để đăng ký lại khai sinh. Tuy nhiên, ngày sinh của anh trên các giấy tờ hiện có như: giấy tờ tùy thân, hồ sơ học tập, hợp đồng lao động… không thống nhất, cụ thể: ngày sinh trên Chứng minh nhân dân do Công an tỉnh Qng cấp lần đầu vào năm 2015 và hồ sơ học tập, hợp đồng lao động là ngày 01/02/1990; theo Chứng minh nhân dân cũng do Công an tỉnh Qng cấp lần 2 vào năm 2019 và Căn cước công dân cấp năm 2021 là ngày 02/02/1990. Hỏi, trong trường hợp này anh Phong đăng ký lại khai sinh lấy thông tin ngày sinh là ngày nào?
Trả lời:
Điểm a khoản 1 Điều 18 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch “Đối với người có hồ sơ, giấy tờ cá nhân ghi thống nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định theo ngày, tháng sinh đó.
Trường hợp ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân không thống nhất thì xác định theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được cấp hoặc xác nhận hợp lệ đầu tiên”.
Như vậy, trường hợp của anh Phong khi đăng ký lại khai sinh sẽ lấy thông tin ngày sinh là ngày 01/02/1990 theo các giấy tờ hợp lệ được xác lập đầu tiên.
Tình huống 3. Chị M và chồng đều là công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Năm 2024, chị M sinh con tại nước ngoài nhưng chưa đăng ký khai sinh cho bé (hiện nay bé đã về cư trú tại Việt Nam). Mới đây, chị liên hệ với UBND phường Q để thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con chị và được công chức tiếp nhận hướng dẫn hồ sơ của con chị còn thiếu giấy tờ chứng minh con chị đã nhập cảnh hợp pháp và cư trú tại Việt Nam theo quy định. Tuy nhiên, chị không đồng ý vì cho rằng con chị đang ở đây “người thật việc thật” nên không cần xuất trình giấy tờ để chứng minh. Hỏi công chức hướng dẫn như vậy đúng không, nếu đúng thì những giấy tờ đó là giấy tờ nào?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch “2. Người yêu cầu đăng ký khai sinh xuất trình giấy tờ chứng minh việc trẻ em cư trú tại Việt Nam …”.
Điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh hợp pháp và cư trú tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP gồm: giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam (như: hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh) và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam”.
Căn cứ quy định nêu trên, công chức hướng dẫn chị M nêu trên là đúng; giấy tờ mà chị cần xuất trình để chứng minh gồm: giấy tờ chứng minh việc trẻ em đã nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam (như: hộ chiếu, giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế có dấu xác nhận nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh) và văn bản xác nhận của cơ quan công an có thẩm quyền về việc trẻ em đang cư trú tại Việt Nam.
Tình huống 4. Năm 2022, chị Th có sinh con, vào thời điểm đó chị Th chưa đăng ký kết hôn với ai, trong giấy khai sinh của con chị để trống thông tin về người cha. Hiện nay cha của cháu bé quay về nhận con, hai người đã làm thủ tục đăng ký kết hôn, cha của cháu muốn bổ sung thông tin về người cha vào giấy khai sinh của con thì có phải thực hiện thủ tục nhận cha, con hay không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.
Khoản 2 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh nhưng không có thông tin về người cha, nay vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con”.
Theo quy định trên, vợ chồng chị Th có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con.
Tình huống 5. Anh Anh và chị Thủy đều độc thân và chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn; vào tháng 01 năm 2025 chị Thủy sinh con nhưng vì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình sinh sống nên sau khi sinh con được hai tháng chị Thủy bỏ đi và con của anh chị vẫn chưa được đăng ký khai sinh. Anh Anh muốn đăng ký khai sinh kết hợp nhận con nhưng không liên lạc được với chị Thủy. Hỏi trường hợp anh Anh vẫn muốn nhận cha con, đã chuẩn bị những giấy tờ pháp lý thể hiện mối quan hệ cha con giữa anh và chị Thủy nhưng vẫn không liên lạc được với chị Thủy thì theo quy định pháp luật không có ý kiến của chị được không? Nếu được thì thông tin của người mẹ ghi trên Giấy khai sinh là như thế nào?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì phần khai về người mẹ được ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ. Nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì ghi theo thông tin do người cha cung cấp; người cha chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp”.
Như vậy, trường hợp anh Anh không liên lạc được với chị Thủy thì không cần có ý kiến của chị trong Tờ khai đăng ký nhận cha con; nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tùy thân của chị Thủy thì phần khai về người mẹ ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tùy thân đó, nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tùy thân của chị Thủy thì ghi theo thông tin do anh Anh cung cấp; anh Anh chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp.
Tình huống 6. Chị Liễu là công dân Việt Nam và có chồng là người nước ngoài, chị đang mang bầu tháng thứ 8. Chị dự định sẽ sinh con tại Việt Nam và làm thủ tục đăng ký khai sinh tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền. Vợ chồng chị thỏa thuận sẽ lựa chọn quốc tịch của con theo quốc tịch của chồng chị; vì vậy chị trao đổi với chồng chị về việc liên hệ cơ quan có thẩm quyền để hỏi thủ tục xin xác nhận về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Tuy nhiên, chồng chị cho rằng không cần xác nhận của cơ quan có thẩm quyền chỉ cần vợ chồng đồng ý. Chị tìm hiểu thông tin trên Internet và trao đổi lại với chồng nhưng anh vẫn chưa tin. Hỏi theo quy định pháp luật có phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp cha, mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con khi đăng ký khai sinh, thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không xác nhận thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ, nhưng để trống phần ghi về quốc tịch trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh”
Như vậy, trường hợp vợ chồng chị Liễu lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì ngoài văn bản thỏa thuận lựa chọn quốc tịch còn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước mà trẻ được chọn mang quốc tịch về việc trẻ có quốc tịch phù hợp quy định pháp luật của nước đó.
Tình huống 7. Anh Dũng và vợ hiện đang làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng anh vừa sinh em bé được 30 ngày. Do ở xa và bận công việc nên dịp giỗ ông cố sắp đến (khoảng 40 ngày nữa) vợ chồng anh mới về quê, đồng thời để thuận tiện khi nhập khẩu cho con vào nhà ngoại nên anh Dũng muốn ủy quyền cho ông ngoại của con anh (là ba vợ của anh) ở quê thực hiện đăng ký khai sinh cho con anh có được không? Nếu được thì có điều kiện gì không? Trường hợp khoảng 40 ngày nữa anh về và thực hiện đăng ký khai sinh cho con anh thì có bị quá thời hạn theo quy định không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định “1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em”.
Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh”.
Như vậy, anh Dũng có thể ủy quyền cho ông ngoại của con anh đi thực hiện đăng ký khai sinh, việc ủy quyền này không cần có văn bản nhưng vợ chồng anh phải thống nhất với ông ngoại về các nội dung khai sinh; trường hợp khoảng 40 ngày nữa anh về và thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con anh thì sẽ quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con theo quy định.
Tình huống 8. Khoảng 5h ngày 06/12/2025, tại đoạn đường liên thôn thuộc Tổ dân phố Thắng Lợi (phường Hòa Bình), chị Phạm Thị M trong lúc đi tập thể dục bất ngờ phát hiện một bé gái sơ sinh bị bỏ rơi, được đặt trên một tấm bìa xốp. Sau khi phát hiện, chị M đã đưa cháu bé đến Công an phường Hòa Bình để trình báo. Thương cháu bé và vợ chồng chị cũng chưa có con và có điều kiện chăm sóc bé nên chị Phạm Thị M bàn với chồng nhận chăm sóc cháu trong thời gian đợi làm các thủ tục cần thiết để nhận nuôi cháu; trên cơ sở đề nghị của vợ chồng chị, UBND phường Hòa Bình đã ra quyết định giao cháu bé cho vợ chồng chị tạm thời nuôi dưỡng. Chị muốn làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu để sau này nhận nuôi cũng dễ. Hỏi theo quy định pháp luật chị Phạm Thị M có được làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu bé không? Cháu bé có được lấy họ theo họ của vợ chồng chị không?
Trả lời:
Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi:“1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.
Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập.
Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
2. Sau khi lập biên bản theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.
3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi””.
Khoản 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng”.
Như vậy, hết thời hạn niêm yết biên bản ghi nhận sự việc cháu bé bị bỏ rơi, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của cháu thì UBND phường Hòa Bình sẽ thông báo cho chị Phạm Thị M để tiến hành đăng ký khai sinh cho cháu và có thể đăng ký nhận nuôi cháu (nếu có đủ điều kiện theo quy định) với họ của vợ, chồng chị.
Tình huống 9. Chị Y và anh D là công dân Việt Nam. Trong quá trình đi du học tại Canada, Chị Y có tình cảm rồi kết hôn với anh D, cũng là du học sinh tại trường. Sau đó, chị Y đã sinh cháu O. Cháu được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của Canada. Nay khóa học đã kết thúc, vợ chồng anh chị về nước làm việc. Nay anh chị có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh của cháu O đã được đăng ký khai sinh ở nước ngoài không? Nếu được thì cơ quan nào có thẩm quyền đăng ký?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 22 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Công dân Việt Nam sinh ra ở nước ngoài, đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, nếu có yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh thì cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch, cấp Trích lục ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh và bản sao Giấy khai sinh cho người yêu cầu”.
Khoản 1 Điều 48 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài” và Điều 4 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp quy định “Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện thẩm quyền đăng ký hộ tịch quy định tại khoản 2 Điều 7, Chương III của Luật Hộ tịch năm 2014 (sau đây gọi là Luật Hộ tịch), các Điều 1, 29, 31, 32, 33, 35, 36, 38, 39 và 41 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ ….”.
Như vậy, chị Y có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh của cháu O đã được đăng ký khai sinh tại Canada và UBND cấp xã nơi cư trú của cháu O có thẩm quyền đăng ký.
Tình huống 10. Sau khi thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập cấp xã và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, địa danh hành chính là quê quán của bà Vi đã có sự thay đổi. Nay bà Vi thực hiện thủ tục đăng ký lại khai sinh và muốn giữ nguyên nguồn gốc, quê quán theo địa danh hành chính cũ trước khi sáp nhập. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết hồ sơ, công chức Tư pháp - Hộ tịch đã hướng dẫn bà khai về quê quán theo địa danh hành chính mới. Bà Vi thắc mắc theo quy định pháp luật, công chức Tư pháp – Hộ tịch hướng dẫn cho bà như trên có đúng không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 30 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Khi có sự thay đổi về địa danh hành chính thì phần ghi địa danh hành chính trên giấy tờ hộ tịch và Sổ hộ tịch được ghi theo địa danh hành chính tại thời điểm đăng ký”.
Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Tại thời điểm đăng ký lại khai sinh, nếu thông tin về cha, mẹ và của bản thân người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có thay đổi so với nội dung giấy tờ tại khoản 1 Điều này, thì người đó có trách nhiệm xuất trình giấy tờ hợp lệ chứng minh việc thay đổi. Nếu việc thay đổi thông tin là phù hợp với quy định pháp luật thì nội dung đăng ký lại khai sinh được xác định theo thông tin thay đổi; nội dung thông tin trước khi thay đổi được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh.
Trường hợp cha, mẹ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh đã chết thì mục “Nơi cư trú” trong Sổ đăng ký khai sinh, Giấy khai sinh ghi: “Đã chết”.
Trường hợp địa danh hành chính đã có sự thay đổi so với địa danh ghi trong giấy tờ được cấp trước đây thì ghi theo địa danh hành chính hiện tại; địa danh hành chính trước đây được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và mục Ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh”.
Như vậy, công chức Tư pháp – Hộ tịch đã hướng dẫn bà Vi khai về quê quán theo địa danh hành chính mới là đúng theo quy định pháp luật, bên cạnh đó các phần ghi địa danh hành chính trên Giấy Khai sinh của bà sẽ ghi địa danh hành chính tại thời điểm đăng ký, địa danh hành chính trước đây được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và mục Ghi chú trong Sổ đăng ký khai sinh.
Tình huống 11: Năm 2022 chị Quỳnh đi đăng ký khai sinh cho con gái mình, tại thời điểm này nơi cư trú của chị là phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh H nhưng sau ngày 01/7/2025, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh H đã sáp nhập với các phường khác thành phường A, tỉnh H. Ngày 10/12/2025 vừa qua chị Quỳnh đi làm bản sao Giấy khai sinh cho con gái chị, khi nhận kết quả, thông tin nơi cư trú của chị vẫn thể hiện là phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, tỉnh H. Chị nghĩ UBND phường A, tỉnh H đã làm sai nên đến yêu cầu làm lại theo địa danh hành chính mới sau sáp nhập nhưng người tiếp nhận hồ sơ giải thích và từ chối yêu cầu của chị. Chị muốn biết theo quy định pháp luật thì nơi cư trú của chị trên bản sao Giấy khai sinh của con chị ghi theo địa danh hành chính sau sáp nhập hay địa danh hành chính tại thời điểm đăng ký khai sinh?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 30 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Khi cấp bản sao trích lục hộ tịch, phần ghi địa danh hành chính trong bản sao trích lục hộ tịch phải theo đúng địa danh hành chính đã đăng ký trong Sổ hộ tịch”.
Như vậy, trên bản sao Giấy khai sinh của con chị Quỳnh, địa danh hành chính tại nơi cư trú của chị phải theo đúng địa danh hành chính đã đăng ký trong Sổ khai sinh năm 2022.
Tình huống 12: Anh Tuấn đã đăng ký khai sinh tại UBND phường H nhưng không còn bản chính Giấy khai sinh chỉ còn 01 bản sao Giấy khai sinh do UBND phường H cấp trước đây. Anh đang làm thủ tục đất đai nên cần nhiều bản sao Giấy khai sinh và đã liên hệ UBND phường K (được sáp nhập từ phường H và 03 phường khác) nhưng được trả lời là Sổ đăng ký khai sinh của anh cũng không còn lưu. Anh không biết trường hợp của anh làm thế nào để có bản chính Giấy khai sinh và anh cho biết thông tin về tên, quốc tịch của cha anh hiện nay đã có sự thay đổi so với bản sao anh đang có, cụ thể: trên bản sao Giấy khai sinh anh đang có là Nguyễn G, quốc tịch Việt Nam nay đã được đổi thành Nguyễn Henry, quốc tịch Đức.
Trả lời:
Điều 24 Nghị định số ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định“1. Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.
3. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ”.
Khoản 1 Điều 25 Nghị định số ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định“Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn”.
Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Tại thời điểm đăng ký lại khai sinh, nếu thông tin về cha, mẹ và của bản thân người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có thay đổi so với nội dung giấy tờ tại khoản 1 Điều này, thì người đó có trách nhiệm xuất trình giấy tờ hợp lệ chứng minh việc thay đổi. Nếu việc thay đổi thông tin là phù hợp với quy định pháp luật thì nội dung đăng ký lại khai sinh được xác định theo thông tin thay đổi; nội dung thông tin trước khi thay đổi được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh.
Trường hợp cha, mẹ của người yêu cầu đăng ký lại khai sinh đã chết thì mục “Nơi cư trú” trong Sổ đăng ký khai sinh, Giấy khai sinh ghi: “Đã chết””.
Căn cứ những quy định trên, anh Tuấn có thể đăng ký lại khai sinh tại UBND phường K hoặc UBND cấp xã nơi anh đang thường trú và đăng ký với nội dung thông tin của người cha là Nguyễn Henry, quốc tịch Đức, thông tin về Nguyễn G, quốc tịch Việt Nam sẽ được ghi vào mặt sau của Giấy khai sinh và mục “Ghi chú” trong Sổ đăng ký khai sinh.
Tình huống 13: Năm 2020, chị Mỹ (thường trú tại phường C) và anh Hưng sống chung với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn và năm 2023 có sinh một bé trai. Sau khi sinh con chị Mỹ và anh Hưng có mâu thuẫn nên anh Hưng bỏ đi và kết hôn với người khác; sau đó chị thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú với họ của chị. Mới đây, anh Hưng vì chung sống với vợ không hòa thuận nên quay lại tìm chị Mỹ và đi xét nghiệm AND để nhận con trai, có kết quả xét nghiệm anh Hưng đến UBND phường C yêu cầu giải quyết việc nhận con và thay đổi họ của con trong Giấy khai sinh. Tuy nhiên, chị Mỹ không đồng ý và không ký vào Tờ khai đăng ký nhận con. Anh Hưng thắc mắc trường hợp này anh liên hệ UBND phường C hay Tòa án nhân dân để được nhận con?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.”
Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình quy định năm 2014 quy định“1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.
Điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) quy định “Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.” (Khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án…4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.”)
Căn cứ các quy định nêu trên, anh Hưng liên hệ Tòa án nhân dân khu vực anh cư trú để thực hiện thủ tục xác định mối quan hệ cha con của anh.
Tình huống 14: Chị Vân thường trú tại phường E, tỉnh L; khi mang thai những ngày đầu của tháng thứ 9 chị bị đau bụng chuyển dạ, trên đường đi đến Bệnh viện Phụ sản, tỉnh L để sinh con, xe taxi chạy đến phường P cũng thuộc tỉnh L thì chị Vân sinh con trên xe taxi, sau đó mới vào Bệnh viện Phụ sản, tỉnh L để chăm sóc sau sinh. Nay thực hiện đăng ký khai sinh cho con, chị phân vân ghi nơi sinh của con chị là ở đâu?
Trả lời:
Điểm d khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Đối với trẻ em sinh tại cơ sở y tế thì nơi sinh phải ghi rõ tên của cơ sở y tế và tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi có cơ sở y tế đó; trường hợp trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì ghi rõ tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi trẻ em sinh ra.”.
Như vậy, nơi sinh của con chị Vân ghi theo tên đơn vị hành chính là phường P, tỉnh L.
Tình huống 15: Anh Quân đang thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con gái của mình mới được sinh ra cách đây 30 ngày. Tuy nhiên, khi đến UBND phường T anh kiểm tra các giấy tờ có liên quan thì phát hiện mình để quên bản chính Giấy chứng sinh của con gái ở nhà, tuy nhiên trên hệ thống dịch vụ công quốc gia khi anh nộp hồ sơ anh đã nộp bản điện tử của Giấy chứng sinh. Hỏi trường hợp này anh Quân có bắt buộc phải nộp bản giấy Giấy chứng sinh của con anh không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực quy định “Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; người yêu cầu đăng ký khai tử phải nộp Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
Trường hợp người yêu cầu đã nộp bản điện tử Giấy chứng sinh, Giấy báo tử hoặc cơ quan đăng ký hộ tịch đã khai thác được dữ liệu điện tử có ký số của Giấy chứng sinh, Giấy báo tử thì không phải nộp bản giấy”.
Như vậy, trong trường hợp này anh Quân không phải nộp bản giấy Giấy chứng sinh của con anh.
Tình huống 16: Chị Hoa thường trú tại phường M, tỉnh Q (cùng địa chỉ thường trú với ba mẹ đẻ chị), vừa mới sinh con cách đây 40 ngày, vì đang trong giai đoạn con sơ sinh nên chị ở nhà mẹ đẻ để có người phụ giúp chị và vợ chồng chị có dự định cho con học tại các trường ở gần nhà mẹ đẻ nên muốn đăng ký khai sinh cho con tại UBND phường M nơi chị thường trú. Khi chuẩn bị các giấy tờ để thực hiện đăng ký khai sinh thì thiếu Giấy chứng nhận kết hôn do để chung với tập hồ sơ nhà đất ở nhà chồng thuộc thành phố H. Chị thắc mắc trường hợp chị chỉ cung cấp thông tin về Giấy chứng nhận kết hôn thì có thể làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con được hay không?
Trả lời:
Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được bổ sung tại điểm c khoản 3 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP) quy định “Đối với yêu cầu đăng ký khai sinh mà cha, mẹ trẻ đã đăng ký kết hôn, trên cơ sở thông tin về Giấy chứng nhận kết hôn cung cấp trong Tờ khai đăng ký khai sinh, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của cha, mẹ trẻ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư….. Trường hợp không tra cứu được tình trạng hôn nhân do chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì cơ quan đăng ký hộ tịch đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú/nơi đã đăng ký kết hôn xác minh, cung cấp thông tin. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận được đề nghị xác minh có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và gửi kết quả về tình trạng hôn nhân của người đó”
Như vậy, trường hợp chị Hoa cung cấp thông tin về Giấy chứng nhận kết hôn của chị trong Tờ khai đăng ký khai sinh, UBND phường M sẽ có trách nhiệm tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư làm cơ sở để thực hiện đăng ký khai sinh cho con chị.
Tình huống 17: Anh Vũ và chị Nhung đều là công dân Việt Nam, vừa mới sinh con gái đầu lòng. Vì rất mê một ca sỹ người Hàn Quốc nên chị Nhung dự định đặt tên cho con như tên ca sỹ Hàn Quốc đó, nhưng anh Vũ chồng chị ngăn cản với lý do người Việt tên phải theo tiếng Việt, khuyên mãi nhưng chị Nhung vẫn chưa chịu thay đổi. Anh Vũ muốn biết, theo quy định pháp luật Việt Nam con của vợ chồng anh có được lấy tên nước ngoài không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ”.
Như vậy, tên của con vợ chồng anh Vũ không được lấy tên nước ngoài.
Tình huống 18: Chị Mận đã hơn 30 tuổi, đã có các loại giấy tờ, cá nhân nhưng từ trước đến nay chưa bao giờ thực hiện đăng ký khai sinh. Nay chị đang rất cần Giấy khai sinh nhưng vì có việc không tự đi đăng ký được, chị đã ủy quyền cho người nhà đến UBND phường nơi chị thường trú để thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh thì được công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn phải có cam đoan về việc chưa đăng ký khai sinh; chị thấy thật vô lý vì cho rằng cơ quan nhà nước sẽ tra cứu được việc đã hay chưa đăng ký khai sinh của công dân, việc cam đoan này là không cần thiết. Hỏi theo quy định pháp luật, công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn như vậy đúng không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 8 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Hồ sơ đăng ký khai sinh đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này gồm có: Tờ khai đăng ký khai sinh, văn bản cam đoan về việc chưa đăng ký khai sinh;”.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được sửa đổi, bổ sung tại điểm b khoản 3 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP) quy định “Người yêu cầu đăng ký hộ tịch có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan đăng ký hộ tịch, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc đăng ký trực tuyến theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch trực tuyến”.
Như vậy, công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn người được chị Mận ủy quyền như trên là đúng quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư số 04/2020/TT-BTP; đồng thời, trường hợp chị Mận không tự đi đăng ký khai sinh được chỉ có thể nộp hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc nộp trực tuyến.
Tình huống 19: Anh Chánh có một đứa con riêng (là cháu Hùng nay đã 19 tuổi), sau nhiều năm xa cách nay cha con anh tìm được nhau và muốn làm thủ tục nhận cha con. Tuy nhiên, cả hai cha con đều chưa sắp xếp thống nhất thời gian để đến UBND phường A nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký nhận cha con. Mẹ của cháu Hùng đề xuất hay hai người ủy quyền cho người khác đi làm thay, và anh Chánh đã ủy quyền cho cha đẻ của mình, cháu Hùng ủy quyền cho mẹ đẻ của mình đi làm thay. Tuy nhiên, khi đến UBND phường A thì công chức tiếp nhận hồ sơ từ chối tiếp nhận với lý do thủ tục này theo quy định của pháp luật không được ủy quyền cho người khác thực hiện. Hỏi công chức tiếp nhận hồ sơ từ chối đúng không? Nếu đúng thì anh Chánh hoặc cháu Hùng trực tiếp đi nộp hồ sơ được không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định tại Điều 3 Luật hộ tịch (sau đây gọi là yêu cầu đăng ký hộ tịch) được uỷ quyền cho người khác thực hiện thay; trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện, nhưng một bên có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.”
Như vậy, công chức tiếp nhận hồ sơ từ chối với lý do nêu trên là đúng; trường hợp này anh Chánh hoặc cháu Hùng có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền, không phải có văn bản ủy quyền của bên còn lại.
Tình huống 20: Em Khánh năm nay 19 tuổi chưa đăng ký kết hôn với ai, vì tin tưởng người yêu nên có thai ngoài ý muốn, sau khi sinh con thì không liên lạc được với người yêu. Vừa qua em có đến UBND phường nơi em thường trú hỏi thủ tục đăng ký khai sinh cho con, công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn hồ sơ cần có Giấy chứng nhận kết hôn, em thắc mắc trường hợp của em như vậy thì con em có được đăng ký khai sinh không? Nếu được thì họ, dân tộc, quê quán của con em sẽ theo ai?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống”.
Như vậy, trường hợp của em thì con em vẫn được đăng ký khai sinh và họ, dân tộc, quê quán của con em được xác định theo họ, dân tộc, quê quán của em.
Tình huống 21: Vợ của anh Hưng vừa mới qua đời tại Bệnh viện lao phổi X; khi anh hỏi về Giấy báo tử để thực hiện đăng ký khai tử cho vợ thì được Bệnh viện thông tin về việc đã cấp Giấy báo tử bản điện tử cho vợ anh. Anh Hưng muốn hỏi, khi thực hiện thủ tục đăng ký khai tử cho vợ mình, anh có thể sử dụng bản điện tử Giấy báo tử đó được không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được sửa đổi tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP của Chính phủ) quy định như sau:
“Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; người yêu cầu đăng ký khai tử phải nộp Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
Trường hợp người yêu cầu đã nộp bản điện tử Giấy chứng sinh, Giấy báo tử hoặc cơ quan đăng ký hộ tịch đã khai thác được dữ liệu điện tử có ký số của Giấy chứng sinh, Giấy báo tử thì không phải nộp bản giấy”
Như vậy, khi thực hiện đăng ký khai tử cho vợ, anh Hưng có thể sử dụng bản điện tử Giấy báo tử do Bệnh viện lao phổi X đã cấp.
Tình huống 22: Ông nội chị Thúy chết đã lâu, không có Giấy báo tử cũng không có giấy tờ thay thế Giấy báo tử. Khi chị liên hệ UBND phường nơi thường trú cuối cùng của ông để đăng ký khai tử thì được hướng dẫn chị phải cung cấp giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết của ông như: lý lịch cá nhân đi học, đi làm…Chị đã về tìm tất cả các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ theo hướng dẫn nhưng chỉ có gia phả dòng họ, ảnh bia mộ của ông nội. Hỏi UBND phường hướng dẫn cung cấp những giấy tờ này có đúng không; trường hợp này, ông nội chị có được đăng ký khai tử không?
Trả lời:
Điều 13 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “1. Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết.
2. Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không có giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.”.
Vận dụng hướng dẫn Công văn số 1214/HTQTCT-HT ngày 11/12/2020, Công văn số 1195/HTQTCT-HT ngày 02/12/2020 của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực của Bộ Tư pháp và Công văn số 1336/STP-HCTP&BTTP ngày 10/12/2021 của Sở Tư pháp “Đối với trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết (ví dụ: 2 hồ sơ, lý lịch cá nhân đi học, đi làm do cơ quan, đơn vị nơi học tập, công tác quản lý, xác nhận, có ghi nhận thông tin liên quan đến việc tử vong; Biên bản xác minh tai nạn, Giấy chứng nhận mai táng, Hợp đồng hỏa táng, văn bản xác nhận của chính quyền, công an địa phương ....). Các giấy tờ, tài liệu này cần được cơ quan đăng ký hộ tịch phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin đúng sự thật.
Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử chỉ cung cấp được các giấy tờ như: gia phả dòng họ, giấy tờ tùy thân của người chết (nếu có); ảnh bia, mộ người chết; văn bản xác nhận của người làm chứng về các thông tin liên quan đến người chết, sự kiện chết… Nếu các thông tin này được cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra, xác minh, khẳng định được tính xác thực, có lập Biên bản xác minh thì có thể vận dụng coi là căn cứ để thực hiện việc đăng ký khai tử.
Trong trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử không cung cấp được bất cứ giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không bảo đảm giá trị chứng minh thì cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối đăng ký khai tử.”
Như vậy, UBND phường nơi thường trú cuối cùng của ông nội chị Thúy hướng dẫn nêu trên là đúng quy định; trường hợp của chị Thúy chỉ cung cấp gia phả dòng họ, ảnh bia mộ của ông nội thì UBND phường sẽ thực hiện kiểm tra, xác minh, khẳng định được tính xác thực, nếu có cơ sở sẽ đăng ký khai tử cho ông nội chị; nếu qua xác minh thông tin không hợp lệ, không đảm bảo giá trị chứng minh sự kiện chết thì UBND phường từ chối đăng ký khai tử cho ông.
Tình huống 23: Trên đường từ thành phố Hồ Chí Minh về quê nghỉ Tết Nguyên đán, anh Hợp không may bị tai nạn giao thông dẫn đến tử vong. Sau vụ tai nạn cơ quan Công an có thẩm quyền đã khám nghiệm và có văn bản xác nhận, trong đó có các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh; số định danh cá nhân của anh Hợp; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết. Vợ anh đến UBND phường X thực hiện đăng ký khai tử cho anh, được UBND phường X yêu cầu nộp Giấy báo tử. Vợ anh Hợp muốn biết trường hợp của anh có thể nộp Văn bản xác nhận của cơ quan Công an có các thông tin nêu trên để thay thế Giấy báo tử được không? Nếu được thì chị nộp bản điện tử hay bản giấy?
Trả lời:
Điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Khi đăng ký khai tử theo quy định của Luật Hộ tịch, nội dung khai tử phải bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết theo Dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài.
Nội dung đăng ký khai tử được xác định theo Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp:
…
d) Đối với người chết trên phương tiện giao thông, chết do tai nạn, bị giết, chết đột ngột hoặc chết có nghi vấn thì văn bản xác nhận của cơ quan công an hoặc kết quả giám định của Cơ quan giám định pháp y thay Giấy báo tử;…”.
Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực quy định “Người yêu cầu đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch; người yêu cầu đăng ký khai tử phải nộp Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật Hộ tịch và tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.
Trường hợp người yêu cầu đã nộp bản điện tử Giấy chứng sinh, Giấy báo tử hoặc cơ quan đăng ký hộ tịch đã khai thác được dữ liệu điện tử có ký số của Giấy chứng sinh, Giấy báo tử thì không phải nộp bản giấy”.
Như vậy, anh Hợp chết do tai nạn, do đó văn bản xác nhận của cơ quan Công an trong trường hợp này là giấy tờ thay Giấy báo tử; nếu vợ anh Hòa đã nộp bản điện tử văn bản xác nhận của cơ quan Công an rồi thì không phải nộp bản giấy.
Tình huống 24: Anh Hải em trai của chị Yến đã bỏ nhà đi biệt tích nhiều năm liền, gia đình chị Yến đã làm các thủ tục và được Tòa án nhân dân D ra quyết định anh Hải đã chết, quyết định đã có hiệu lực. Khi thực hiện các thủ tục liên quan đến đất đai, chị Yến có xuất trình và nộp Quyết định này của Tòa án nhân dân D để thay thế giấy tờ khai tử của anh Hải. Tuy nhiên, đều bị các cơ quan tiếp nhận từ chối và hướng dẫn chị dùng Quyết định này để đi đăng ký khai tử cho anh Hải. Chị Yến thắc mắc Quyết định tuyên bố anh Hải đã chết có phải giấy tờ khai tử của anh không, có quyết định này rồi chị có cần phải đăng ký khai tử cho anh Hải không?
Trả lời:
Điểm c khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Khi đăng ký khai tử theo quy định của Luật Hộ tịch, nội dung khai tử phải bao gồm các thông tin: Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết; số định danh cá nhân của người chết, nếu có; nơi chết; nguyên nhân chết; giờ, ngày, tháng, năm chết theo Dương lịch; quốc tịch nếu người chết là người nước ngoài.
Nội dung đăng ký khai tử được xác định theo Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay Giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền sau đây cấp:
…
c) Đối với người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thay Giấy báo tử…”.
Như vậy, quyết định tuyên bố anh Hải đã chết là giấy tờ thay Giấy báo tử, không phải giấy tờ khai tử và có quyết định này rồi chị Yến vẫn phải thực hiện đăng ký khai tử cho anh Hải theo quy định.
Tình huống 25: Ba của anh Quý đi du lịch nước ngoài bị đột quỵ, chết tại nước ngoài và đã thực hiện đăng ký khai tử tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Nay gia đình anh Quý cần bản khai tử của ba anh do cơ quan Việt Nam cấp để làm các thủ tục liên quan đến đất đai. Hỏi trường hợp này anh Quý thực hiện đăng ký khai tử cho ba anh tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hay làm thủ tục gì và cơ quan nào có thẩm quyền?
Trả lời:
Căn cứ khoản 3 Điều 48 Luật Hộ tịch năm 2014 “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người có trách nhiệm khai tử theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này ghi vào Sổ hộ tịch việc khai tử đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.” và Điều 4 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp “Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện thẩm quyền đăng ký hộ tịch quy định tại khoản 2 Điều 7, Chương III của Luật Hộ tịch năm 2014 (sau đây gọi là Luật Hộ tịch), các Điều 1, 29, 31, 32, 33, 35, 36, 38, 39 và 41 của Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ ….”, thì anh Quý đến UBND cấp xã nơi anh cư trú để thực hiện thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc khai tử của ba anh đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

