Một số tình huống pháp luật về hộ tịch (Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; đăng ký kết hôn; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch)
Thực hiện Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 15/9/2025 triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật; hòa giải cơ sở và nhiệm vụ đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2025 trên địa bàn phường Cẩm Thành; Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 06/10/2025 triển khai thực hiện Đề án “Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2025 - 2030” trên địa bàn phường Cẩm Thành. Văn phòng HĐND và UBND phường giới thiệu một số tình huống pháp luật về hộ tịch (Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; đăng ký kết hôn; thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch) để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
Tình huống 01: Em Quân thường trú tại phường Y, tỉnh Quảng Ngãi tạm trú tại xã X, tỉnh Quảng Ngãi. Nay em muốn xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để giải quyết thủ tục hành chính về đất đai, em đến UBND xã X để nộp Tờ khai yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì được hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân là UBND phường Y. Em muốn hỏi theo quy định pháp luật cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân cho em và em có thể nộp hồ sơ ở UBND xã X không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”.
Như vậy, UBND phường Y là cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân cho em Quân; đồng thời theo Phụ lục Danh mục thủ tục hành chính thực hiện tiếp nhận, trả kết quả giải quyết không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ban hành kèm theo Quyết định số 964/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thì em Quân có thể nộp hồ sơ ở UBND xã X.
Tình huống 02: Chị Vy đến liên hệ UBND phường M để yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tại đây chị được công chức yêu cầu xuất trình quyết định hoặc bản án ly hôn của Tòa để chứng minh việc chị đã ly hôn. Chị thắc mắc việc yêu cầu này có đúng quy định không?
Trả lời:
Khoản 1, khoản 2 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng”.
Như vậy, yêu cầu của công chức trong trường hợp nêu trên là đúng quy định.
Tình huống 03: Bà Giang từ trước đến nay chỉ có một nơi thường trú là phường Q; cách đây 02 ngày làm việc bà đã truy cập vào Cổng dịch vụ công quốc gia để nộp hồ sơ yêu cầu UBND phường Q cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; khi nộp hồ sơ bà đính kèm Tờ khai và bản sao Trích lục khai tử của chồng bà. Qua theo dõi hồ sơ trên Cổng dịch vụ công quốc gia thì thấy hồ sơ của mình đang trong tình trạng đang xử lý. Bà thắc mắc, trường hợp của bà đã nộp đủ giấy tờ theo quy định chưa và trong thời hạn bao nhiêu ngày bà sẽ nhận được kết quả?
Trả lời:
Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:
“1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”
Như vậy, bà Giang đã nộp đủ giấy tờ theo quy định và trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, UBND phường Q sẽ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho bà Giang.
Tình huống 04: Cách đây 06 tháng anh Hưng đã được UBND phường K cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, do gia đình anh có việc quan trọng hơn nên anh chưa thực hiện đăng ký kết hôn như dự tính, nay anh đến UBND phường K để yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn; tại đây anh được yêu cầu phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp cách đây 06 tháng. Hỏi theo quy định pháp luật yêu cầu này đúng hay sai?
Trả lời:
Khoản 6 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó”.
Như vậy, yêu cầu anh Hưng nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp cách đây 06 tháng là đúng quy định.
Tình huống 05: Em Quân thường trú tại phường T, do đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nên em có nhờ mẹ đến UBND phường T để yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân gửi vào Thành phố Hồ Chí Minh để em thực hiện đăng ký kết hôn tại đây. Tuy nhiên, em được mẹ nói lại là công chức Tư pháp – Hộ tịch phường T hướng dẫn trường hợp của em không cần phải yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, UBND phường T sẽ trả lời xác minh tình trạng hôn nhân của em khi có đơn vị yêu cầu xác nhận để thực hiện việc đăng ký kết hôn cho em. Em hỏi theo quy định pháp luật, trường hợp của em có phải làm Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 23 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ) quy định “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác”.
Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (được bổ sung tại điểm c khoản 3 Điều 2 Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ) quy định “….Đối với yêu cầu đăng ký kết hôn, cơ quan đăng ký hộ tịch tra cứu thông tin về tình trạng hôn nhân của người yêu cầu đăng ký kết hôn trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Kết quả tra cứu được lưu trữ dưới dạng điện tử hoặc bản giấy, phản ánh đầy đủ, chính xác thông tin tại thời điểm tra cứu và đính kèm hồ sơ của người đăng ký.
Trường hợp không tra cứu được tình trạng hôn nhân do chưa có thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì cơ quan đăng ký hộ tịch đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú/nơi đã đăng ký kết hôn xác minh, cung cấp thông tin. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận được đề nghị xác minh có trách nhiệm kiểm tra, xác minh và gửi kết quả về tình trạng hôn nhân của người đó”
Như vậy, trường hợp của em Hưng nêu trên không phải làm Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Tình huống 06: Chị Minh đang thực hiện các thủ tục liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất; theo yêu cầu của Văn phòng công chứng A, chị Minh phải cung cấp 02 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Hỏi theo quy định pháp luật, chị có được cấp 02 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không?
Trả lời:
Khoản 4 Điều 12 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác, không phải để đăng ký kết hôn, thì người yêu cầu không phải đáp ứng điều kiện kết hôn; trong Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi rõ mục đích sử dụng, không có giá trị sử dụng để đăng ký kết hôn. Số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp theo yêu cầu”.
Như vậy, số lượng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho chị Minh để thực hiện các thủ tục liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ được cấp theo yêu cầu của chị Minh, trong trường hợp này được cấp 02 bản.
Tình huống 07: Em Sang và bạn gái tên Trinh đã nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại UBND phường O (nơi thường trú của cả 02 em), theo phiếu hẹn trả kết quả thì mai sẽ đến nhận kết quả nhưng 02 em đang làm việc tại thành phố N, chưa sắp xếp về phường O để nhận Giấy chứng nhận kết hôn như phiếu hẹn. Em Sang thắc mắc, trường hợp này em có được ủy quyền cho người khác đến nhận kết quả không? Nếu không em có được gia hạn thời gian nhận kết quả không, nếu được gia hạn em cần phải làm những thủ tục gì?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và khoản 2 Điều 4 Thông tư số 08/2025/TT-BTP ngày 12/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp quy định:
“Khi trả kết quả đăng ký kết hôn, đăng ký lại kết hôn, hai bên nam, nữ đều phải có mặt; người trả kết quả có trách nhiệm hướng dẫn người yêu cầu đăng ký kết hôn kiểm tra nội dung Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn.
Nếu hai bên nam, nữ thấy nội dung đúng, phù hợp với hồ sơ đăng ký kết hôn thì ký, ghi rõ họ, tên trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ đăng ký kết hôn theo hướng dẫn của người trả kết quả”.
Khoản 3 Điều 32 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, Điều 4 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp và khoản 2 Điều 3 Thông tư số 08/2025/TT-BTP ngày 12/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp quy định: “Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.
Nếu sau đó hai bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu”.
Như vậy, trường hợp của em Sang nêu trên không thể ủy quyền cho người khác nhận Giấy chứng nhận kết hôn. Em có thể gửi văn bản gia hạn thời gian nhận Giấy chứng nhận kết hôn đến UBND phường O và được gia hạn không quá 60 ngày.
Tình huống 08: Chị C (công dân Việt Nam) và anh E (công dân Trung Quốc) kết hôn với nhau tại Việt Nam. Sau khi kết hôn, chị C sang Trung Quốc sinh sống và hai bên phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly hôn, nên cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc đã giải quyết ly hôn cho anh chị. Hiện nay, chị về Việt Nam với dự định đăng ký kết hôn với anh B. Vậy chị C phải thực hiện thủ tục yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn của chị tại cơ quan nào để được đăng ký kết hôn mới với anh B?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 22 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch và Điều 3 Thông tư số 08/2025/TT-BTP ngày 12/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp và phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp quy định “Trường hợp công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam có yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn để làm thủ tục đăng ký kết hôn mới tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc nơi đăng ký kết hôn mới”.
Như vậy, chị B có thể yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn của chị tại UBND cấp xã nơi chị đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc nơi đăng ký kết hôn mới.
Tình huống 09: Ông A và bà B đăng ký kết hôn năm 1985, nay ông A làm hồ sơ thừa kế do bà B để lại nên cần bổ sung Giấy chứng nhận kết hôn nhưng ông A tìm không có, nó đã bị thất lạc, hiện tại bà B đã mất. Ông A đến UBND cấp xã nơi ông đăng ký kết hôn xin cấp bản sao trích lục hộ tịch Giấy chứng nhận kết hôn, tuy nhiên UBND cấp xã này không còn lưu giữ sổ đăng ký kết hôn năm 1985. Vậy ông A có xin đăng ký lại kết hôn được hay không?
Trả lời:
Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử “Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ”.
Như vậy, theo quy định trên trường hợp của ông A, vì bà B đã mất nên ông không thể thực hiện việc đăng ký lại kết hôn. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. 2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng” thì ông A có thể nộp hồ sơ yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
Tình huống 10: Chị K và anh H yêu nhau đã hơn 10 năm, do biến cố gia đình nên anh H lâm bệnh tâm thần và đã được Tóa án ra quyết định tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự, quyết định này đang có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, vì tình cảm mặn nồng và muốn gắn bó lâu dài, tận tụy chăm sóc anh nên chị K muốn đăng ký kết hôn với anh. Hỏi trường hợp này, chị K có được đăng ký kết hôn với anh H không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này” (điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật này quy định “a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo”; “b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn”; “c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”; “d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”).
Như vậy, anh H hiện đang là người bị mất năng lực hành vi dân sự nên không đủ điều kiện để đăng ký kết hôn và vì vậy chị K sẽ không thể đăng ký kết hôn với anh H.
Tình huống 11: Chị Lê có dự định đăng ký kết hôn với anh John (quốc tịch Hoa Kỳ) và muốn thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND phường C, tỉnh Q nơi chị Lê cư trú. Khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, anh John nộp bản sao Hộ chiếu của anh do cơ quan có thẩm quyền tại Hoa Kỳ cấp nhưng bản Hộ chiếu này chưa được dịch ra tiếng Việt và chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật nên công chức Tư pháp – Hộ tịch yêu cầu anh phải nộp bản dịch tiếng Việt của hộ chiếu và chứng thực chữ ký người dịch. Hỏi yêu cầu này có đúng quy định pháp luật không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 38 Luật Hộ tịch năm 2015 quy định “Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu”.
Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định“Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài sử dụng để đăng ký hộ tịch tại Việt Nam phải được dịch ra tiếng Việt và công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, yêu cầu anh John nộp bản dịch tiếng Việt của hộ chiếu và chứng thực chữ ký người dịch là đúng theo quy định pháp luật.
Tình huống 12: Ông K và bà S đăng ký kết hôn năm 1997 nhưng bản chính Giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc. Ông K đến UBND nơi đã đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao trích lục hộ tịch, tuy nhiên sổ đăng ký kết hôn thời điểm đó không còn được lưu giữ. UBND yêu cầu ông bà thực hiện thủ tục đăng ký lại kết hôn. Do không còn bản sao Giấy chứng nhận kết hôn, ông K chỉ cung cấp được các giấy tờ cá nhân có thông tin liên quan đến việc kết hôn nhưng không thể hiện rõ ngày, tháng đăng ký kết hôn. Vậy trong trường hợp này, ngày, tháng, năm đăng ký kết hôn của ông K và bà S được xác định như thế nào?
Trả lời:
Khoản 4 Điều 27 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây”.
Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông K và bà S khi đăng ký lại kết hôn, sẽ được công nhận từ ngày 01 tháng 01 năm 1997.
Tình huống 13: Chị Minh và anh Mẫn đều bị câm bẩm sinh, qua mai mối 2 anh chị quen và yêu nhau, nay muốn đăng ký kết hôn. Hỏi theo quy định pháp luật chị Minh và anh Mẫn có đăng ký kết hôn được không?
Trả lời:
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện đăng ký kết hôn như sau:
“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
(điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật này quy định “a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo”; “b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn”; “c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”; “d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng”).
Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.
Như vậy, trường hợp của chị Minh và anh Mẫn không vi phạm điều kiện kết hôn nên được thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định.
Tình huống 14: Vợ chồng anh Tuấn là người có quốc tịch Việt Nam, đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ; cách đây 10 năm đã thực hiện đăng ký kết hôn theo thủ tục của Hoa Kỳ. Hiện nay vợ chồng anh muốn quay trở về Việt Nam sinh sống. Hỏi trong trường hợp này giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng anh có được công nhận ở Việt Nam không?
Trả lời:
Điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định như sau:
“1. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào Sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
2. Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch.”.
Như vậy, trong trường hợp này việc đăng ký kết hôn của vợ chồng anh Tuấn có giá trị pháp lý tại Việt Nam nếu được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi chú vào Sổ hộ tịch.
Tình huống 15: Anh P quê quán ở xã M, chị T vợ anh quê quán ở xã Đ, nơi thường trú của vợ chồng anh chị là phường Q. Khi thực hiện đăng ký khai sinh cho con anh (sinh năm 2020), anh đã khai nhầm quê quán của con là phường Q và đã được cấp Giấy khai sinh với quê quán là phường Q. Hỏi trường hợp này anh thực hiện cải chính quê quán cho con được không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch”.
Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:
“1. Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.
2. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.
3. Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật hộ tịch”.
Khoản 8 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định “Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh”.
Như vậy, trong trường hợp này anh P thực hiện cải chính quê quán cho con anh được với trường hợp Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh còn lưu hoặc một trong hai loại này còn lưu.
Tình huống 16: Năm 2009, chị Nữ thực hiện đăng ký khai sinh cho con gái chị, tại thời điểm này Giấy khai sinh con chị được cấp không có thông tin về quê quán của cha và quê quán của mẹ. Năm 2025, chị sinh đứa thứ 3 thì phát hiện biểu mẫu Giấy khai sinh hiện nay có thông tin về quê quán của cha và mẹ. Hỏi trường hợp này, chị muốn bổ sung quê quán của cha và mẹ vào Giấy khai sinh bản chính đã cấp cho con chị vào năm 2009 thì được không?
Trả lời:
Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Giấy tờ hộ tịch quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật hộ tịch có giá trị sử dụng mà không phải bổ sung thông tin hộ tịch còn thiếu so với biểu mẫu hộ tịch hiện hành” (Khoản 2 Điều 75 Luật Hộ tịch quy định “Giấy tờ hộ tịch đã cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng”).
Như vậy, Giấy khai sinh của con chị được cấp năm 2009 vẫn có giá trị sử dụng mà không phải bổ sung thông tin về quê quán của cha và mẹ so với biểu mẫu hộ tịch hiện hành.
Tình huống 17: Ông Quý chết năm 2020, đã được UBND phường C, thành phố N (nay là phường Q), tỉnh H đăng ký khai tử với thông tin sinh năm 1954. Nay, anh Phú con ông Quý phát hiện một số giấy tờ cá nhân như Chứng minh nhân dân; văn bằng, giấy chứng nhận kết hôn của ông Quý với thông tin năm sinh 1945 (các giấy tờ này được cấp trước năm 2020). Hỏi trường hợp này, anh Phú có thực hiện cải chính năm sinh của ông Quý trên bản chính Trích lục khai tử (còn giá trị sử dụng) không? Nếu được thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch”.
Điều 17 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định:
“1. Việc cải chính hộ tịch chỉ được giải quyết sau khi xác định có sai sót khi đăng ký hộ tịch; không cải chính nội dung trên giấy tờ hộ tịch đã được cấp hợp lệ nhằm hợp thức hóa thông tin trên hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác.
2. Sai sót trong đăng ký hộ tịch là sai sót của người đi đăng ký hộ tịch hoặc sai sót của cơ quan đăng ký hộ tịch.
3. Việc cải chính nội dung đăng ký khai tử thuộc thẩm quyền của cơ quan đã đăng ký khai tử, theo đề nghị của người có trách nhiệm đăng ký khai tử quy định tại Điều 33 Luật hộ tịch”.
Như vậy, anh Phú có thể thực hiện cải chính năm sinh cho ông Quý trên bản chính Trích lục khai tử; việc thực hiện thủ tục này thuộc thẩm quyền của UBND phường Q, tỉnh H.
Tình huống 18: Năm 2017, anh Hoàng và chị Nhung đăng ký kết hôn; thời điểm này anh chị sử dụng giấy tờ tùy thân là số chứng minh nhân dân do chưa được cấp căn cước công dân nên thông tin giấy tờ tùy thân của anh chị trên Giấy chứng nhận kết hôn là số chứng minh nhân dân. Nay đã được cấp căn cước công dân và không còn sử dụng số chứng minh nhân dân nữa. Hỏi trường hợp này, anh Hoàng, chị Nhung muốn thực hiện thủ tục cải chính thông tin giấy tờ tùy thân trên Giấy chứng nhận kết hôn từ số chứng minh nhân dân thành số căn cước công dân được không?
Trả lời:
Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định “Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch là việc chỉnh sửa thông tin cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch và chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch”.
Như vậy, trường hợp của anh Hoàng, chị Nhung nêu trên không thể thực hiện thủ tục cải chính thông tin giấy tờ tùy thân trên Giấy chứng nhận kết hôn từ số chứng minh nhân dân thành số căn cước công dân được vì tại thời điểm đăng ký kết hôn anh chị chưa được cấp số căn cước công dân và không có sự sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của anh Hoàng, chị Nhung.
Tình huống 19: Bản chính Giấy khai sinh của ông Khải được UBND xã M cấp năm 1991, thể hiện năm sinh 1991. Tuy nhiên, căn cước công dân của ông Khải lại ghi sai năm sinh là năm 1990, do thời điểm làm căn cước công dân, ông Khải khai nhầm năm sinh theo năm âm lịch. Ông Khải phải làm gì để các giấy tờ được thống nhất năm sinh trong giấy tờ?
Trả lời:
Điều 6 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về Giá trị pháp lý của Giấy khai sinh như sau:
“1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
2. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh”.
Như vậy, Giấy khai sinh của Ông Khải là giấy tờ hộ tịch gốc, các thông tin tại Căn cước công dân của ông Khải phải thống nhất với Giấy khai sinh đó. Trường hợp này, ông Khải đến Cơ quan Công an để điều chỉnh năm sinh trong Căn cước công dân cho đúng với Giấy khai sinh.
Tình huống 20: Trong Giấy khai sinh của chị Quyên do UBND phường Y, huyện M (nay là phường H), tỉnh K cấp năm 2019 với thông tin quê quán của chị là phường Y, huyện M, tỉnh K. Tuần vừa qua, chị có yêu cầu UBND phường H, tỉnh K thay đổi quê quán cho chị trong Giấy khai sinh từ phường Y, huyện M, tỉnh K thành phường H, tỉnh K nhưng UBND phường H đã từ chối. Hỏi việc từ chối này có đúng quy định pháp luật không?
Trả lời:
Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định phạm vi thay đổi hộ tịch như sau:
2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi”.
Như vậy, phạm vi thay đổi hộ tịch không bao gồm quê quán của cá nhân nên việc từ chối này là đúng quy định.

